HOT LINE : 0913 91 74 58 - 0908 41 60 81 - 0918 66 44 99 - (84.8) 3957 43 55 - 3957 43 56
  Dịch vụ
Các loài THÚ quý được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam

  

GẤU NGỰA
Tên tiếng anh : Asiatic Black Bear
Tên khoa học : Ursus thibetanus
Họ: Gấu Ursidae
Bộ: Ăn thịt Carnivora

Mô tả:
Loài thú cỡ lớn. Dài thân: 1070 - 1490mm, dài đuôi: 38 - 88mm, dài bàn chân sau: 160 - 170mm, trọng lượng tới 200kg. Tai lớn. Vùng lông trắng ở mõm không rõ hoặc không lan rộng đến mặt. Toàn thân lông đen, dài, thô. Đặc biệt có yếm ở ngực hình chữ V nhọn màu vàng nhạt hoặc trắng mờ.
Sinh học:
Gấu ngựa ăn tạp, thức ăn gồm nhiều loại quả chín như: sung, vả, chuối, cam, các loại hạt dẻ, ngô... Các loại mầm cây, và cả thức ăn động vật: mật ong, chim, thú nhỏ, trứng chim, cá. Trong diều kiện nuôi nhốt chúng ăn nhiều loại thức ăn của người. Mùa sinh sản không rõ rệt trong năm. Thời gian có chửa 7 - 8 tháng. Mỗi lứa đẻ 2 con.
Nơi sống và sinh thái:
Sống ở rừng, chủ yếu ở rừng đầu nguồn, cây gỗ lớn, rừng hỗn giao trên núi đất và núi đá. Gấu sống trên mặt đất, leo trèo giỏi. Hoạt động kiếm ăn vào ban đêm, ban ngày ngủ trong hốc cây lớn, hang động hoặc vách đá, không cố định. Sống đơn độc, chỉ ghép đôi vào thời kỳ động đực và gia đình mẹ con non.
Phân bố:
Việt Nam: Tuyên Quang, Lai Châu, Bắc Thái, Sơn La (Mộc Châu), Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Tây Nguyên. Gấu ngựa phân bố rộng ở các tỉnh miền đồi núi, nhưng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc.
Thế giới: Viễn đông Liên Bang Nga, Nepan, bắc Ấn Độ (Assam), Apganistan, Mianma, Trung Quốc, Triều Tiên, Thái Lan, Lào, Cămpuchia.
Giá trị: Giá trị kinh tế cao mật gấu, xương và mỡ làm dược liệu; da lông cho kỹ nghệ hàng da.
Tình trạng:
Việt Nam, 30 - 40 năm về trước gấu ngựa tương đối phổ biến. Hiện nay đã trở nên hiếm đến mức báo động. Nguyên nhân chủ yếu là tệ săn bắn bừa bãi và nạn phá rừng. Mức độ đe dọa: bậc E.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm tuyệt đối săn bắn. Bảo vệ rừng và xây dựng các khu dự trữ thiên nhiên, nhất là rừng đầu nguồn. (Nguồn : Sinh vật rừng Việt Nam).

 



 

HƯƠU SAO 
Tên tiếng anh : Japanese dapple deer
Tên khoa học : Cervus nippon
Họ: Hươu nai Cervidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla

Mô tả:
Cỡ trung bình trọng lượng cơ thể 60 - 80kg. Lông ngắn, mịn, màu vàng hung, có 6 - 8 hàng chấm trắng như sao dọc 2 bên thân. Con đực có sừng 2 - 4 nhánh, nhỏ hơn sừng nai.
Sinh học:
Thức ăn chủ yếu của hươu sao là cỏ và lá cây. Hiện nay đã thống kê được 75 loài cây làm thức ăn cho chúng. Chúng ưa thích nhật là các loại lá cây có nhựa mủ như:sung, ngái, mít.... trong điều kiện nuôi dưỡng hươu sao tập trung đẻ vào các tháng 3 - 5. Thời kỳ động dục tập trung vào tháng 8 - 9. Thời gian có chửa 215 - 135ngày. Mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con. Thời gian nuôi con từ 3 - 4 tháng.
Nơi sống và sinh thái:
Ngoài thiên nhiên hươu sao sống ở trên núi đất, ưa thích nơi khô ráo, sống thành từng đàn, hiền lành và nhút nhát. Trong điều kiện nuôi dưỡng thường mắc một số bệnh tiệu hoá, bệnh phổi, bệnh virut ở móng, bệnh ký sinh trùng máu.
Phân bố:
Việt Nam: Trước đây hươu sao có ở Cao Bằng, Bắc Thái, Quảng Ninh, Hà Tây (Ba Vì), Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Hiện nay đang được nuôi dưỡng ở Sơn La (Thị Xã), Hà Tây (Ba Vì), Hải Phòng (đảo Cát Bà), Ninh Bình (Cúc Phương), Nghệ An (Quỳnh Lưu), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê..), Đắc Lắc (Easúp), Sông Bé (Hữu Liêm), TP Hồ Chí Minh (Vườn thú), Đồng Nai (Hiếu Liêm, Long Thành)
Thế giới: Đông Xibiri, Trung Quốc, Đài Loan, Triều Tiên, Nhật Bản.
Giá trị:
Hươu sao là thú quý. Sách đỏ thế giới xếp bậc E. Nhung có hoạt tính sinh học cao dùng làm dược liệu rất có Giá trị:
Tình trạng:
Trong thiên nhiên có thể không còn, nhưng đã được thuần dưỡng nuôi. Hiện nay có khoảng 6000 con đang được nhân giống. Mức độ đe dọa: bậc V.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Khuyến khích, thúc đẩy nghề nuôi hươu sao trong nhân dân. Gây trả lại hươu sao trong các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia. (Nguồn : Sinh vật rừng Việt Nam).

 


 


KHỈ ĐUÔI LỢN
Tên tiếng anh : Pig-tailed Macaque
Tên khoa học : Macaca nemestrin
a

Sinh học: Thức ăn là quả, hạt, chồi cây và sâu bọ. Sinh sản hầu như quanh năm không tập trung theo mùa. Thời gian có thai là 162 - 186 ngày. Mỗi lứa đẻ một con.
Nơi sống và sinh thái: Thường sống ở rừng già trên núi đá vôi, hoạt động kiếm ăn ban ngày ở thung lũng, rừng thưa. Mùa đông trú ẩn trong hốc đá, mùa hè trú ẩn trên vách đá hoặc cành cây. Sống bầy đàn 10 - 12 con, có đàn 40 con. Đôi khi hoạt động riêng lẻ hoặc nhóm 4 - 5 con.
Phân bố: Ở các tỉnh vùng núi cao của miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và nam Bộ.
Giá trị: Khỉ đuôi lợn có lợi về nhiều mặt như các loài khỉ khác. Có nơi chúng được nuôi để hái dừa.
Tình trạng: Số lượng còn rất ít.
Mức độ đe dọa: Bậc V (sắp nguy cấp). 
 

   


 


TRĂN GẤM
Tên tiếng anh : 
Tên khoa học : Python reticulatus
Họ: Trăn Boidae
Bộ: Có vảy Squamata

Mô tả:
Trăn gấm là loài rắn cỡ lớn. Đầu dài, nhỏ. Mỗi bên mép trên có 4 hõm vảy nằm ở 4 vảy mép sát đấu mõm. Có 2 gai nhỏ hình cựa ở 2 bên lỗ hậu môn. Trăn gấm có đầu màu vàng nhạt hay nâu, có một vệt xám đen mảnh chạy dọc chính giữa từ mõm tới gáy nối liền với vết trên lưng. Một vệt đen khác tứ sau mắt chạy xiên xuống góc mép. Trên thân và đuôi có các đường xám đen nối với nhau tạo thành dạng mắt dưới nổi trên nền màu vàng nâu. Bụng vàng nhạt đôi khi đốm sáng nhạt. Chiều dài cơ thể tới 6m.
Sinh học:
Thức ăn chủ yếu là các loài thú cỡ nhỏ và vừa, một số loài chim, số ít bò sát và ếch nhái. Trăn gấm giao phối vào thời gian tháng 10 - 2 năm sau. Sau giao phối khoảng 2 tháng rưỡi tới 3 tháng thì đẻ, từ 41 - 60 trứng. Kích thước trung bình của trứng từ 50 - 75mm, Trăn mẹ ấp trứng bằng cách cuộn lấy ổ trứng. Trứng được ấp khoảng 2 tháng thì nở. Tuổi thọ của trăn đạt tới 21 năm.
Nơi sống và sinh thái:
Trăn gấm sống ở rừng già, rừng thưa, savan cây bụi gần vực nước. Trăn thường sống đơn độc, chỉ tập trung trong mùa giao phối.
Phân bố:
Việt Nam: Quảng Nam - Đà Nẵng (Đà Nẵng), Gia Lai (Bờ Y, Sơ Klang), Đắc Lắc (Buôn Ma Thuột, Eakao), Bình Định (Qui Nhơn), Khánh Hòa (Cầu Đá), Sông Bé (Dầu Tiếng), Tây Ninh, Đồng Nai (Long Bình, Biên Hòa), Long An, TP Hồ Chí Minh, Kiên Giang (Phú Quốc), Minh Hải (Năm Căn), Bà Rịa - Vũng Tàu (Côn Đảo).
Thế giới: Ấn Độ, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaixia, Inđônnêxia.
Giá trị:
Trăn gấm là nguồn dược liệu qúy, cung cấp cho kỹ nghệ da và xuất khẩu (da và trăn sống), còn có giá trị thẩm mỹ.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ít. Nguyên nhân do phá huỷ môi trường sống và con người săn bắt quá mức. Mức độ đe dọa: bậc V.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt trăn gấm vào mùa sinh sản. Nghiêm cấm hình thức đốt đồng bắt trăn. Thành lập các trại nuôi trăn tập thể và phát triển hình thức chăn nuôi gia đình. (Nguồn : Sinh vật rừng Việt Nam).

 


 

VƯỢN ĐEN
Tên tiếng anh : Gibbon
Tên khoa học : Hylobates concolor



Sinh học: Kiếm ăn trên cây cao. Thức ăn là lá cây, chồi non, quả cây, côn trùng, trứng chim, chim non trong tổ. Thời gian có thai 7 - 8 tháng. Thường hai năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con.
Nơi sống và sinh thái: Vượn đen sống ở rừng già trên đỉnh núi cao, thường là núi đá ở độ cao 500 - trên 1000 m so với mực nước biển, chúng sống định cư trong các khu rừng nhất định. Không sống ở rừng thưa, rừng tre nứa. Hoạt động ban ngày vào sáng và chiều tối, trưa và đêm nghỉ ngơi trên ngọn cây. Thường hay kêu (hú) vào sáng sớm.
Phân bố: Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Thanh Hóa.
Tình trạng: Vượn là loài thú quí hiềm sách đỏ Thế giới xếp bậc I. Ở nước ta, vượn đen phân bố hẹp. Số lượng còn rất ít.
Mức độ đe dọa : Bậc E (nguy cấp).


 


  

CÁ SẤU XIÊM
Tên tiếng anh : 
Tên khoa hoc : Crocodylus siamensis
Họ: Cá sấu Crocodylidae
Bộ: Cá sấu Crocodylia

Mô tả:
Cá sấu xiêm có dạng như kỳ đà song thân dài. Mõm dài như cái kẹp, hàm dưới có nhiều răng dài và nhọn. Đuôi cao to, khoẻ phía trên đuôi có một gờ. Chân sau có màng ở lưng có dạng hình chữ nhật. Cá sấu xiêm màu xám, mặt bụng nhạt hơn so với lưng. Cá sấu xiêm ở ta dài khoảng 2, 20 - 2, 28m (trên thế giới Cá sấu xiêm lớn nhất đạt tới 4m)
Sinh học:
Cá sấu xiêm chủ yếu ăn cá, cua và những thú nhỏ như chuột. Chúng giao phối khoảng tháng 12 - 3 với kích thước tối thiều khoảng 1800mm. Chúng đẻ trứng mỗi năm một lần vào đầu mùa mưa ttừ tháng 4 - tháng 10 dương lịch với số lượng 15 - 20 trứng, có khi tới 40 trứng. Một tuần trước khi đẻ, Cá sấu đào một hố sâu đến 500mm rộng 800mm đẻ trứng vào đó. Chúng thường đẻ vào ban đêm. Sau khi đẻ xong, ổ đẻ được lấp bằng các cành lá khô mục làm thành một mô cao đến nửa m. Cá sấu mẹ có tập tính bảo vệ trứng. Sau khi đẻ 75 - 85 ngày thì trứng nở. Cá sấu xiêm sơ sinh dài khoảng 200 đến 300mm.
Nơi sống và sinh thái:
Cá sấu xiêm thường sống ở hồ, sông lạch, những nơi có nước lặng hoặc nước chảy chậm. Chúng còn thích sống ở đầm lầy xa các dòng nước chảy.
Phân bố:
Việt Nam: Gia Lai (sông Ba), Kontum (sông Sa Thầy), Đắc Lắc (sông Easúp, sông Krông Ana, hồ Lắc, hồ Krông Pach thượng), Nam bộ (sông Cửu Long).
Thế giới: Campuchia, Malaixia, Giava, Kalimantan.
Giá trị:
Da thuộc có giá trị thương mại cao; được nuôi trong vườn động vật.
Tình trạng:
Hiện còn số lượng rất ít do bị săn bắt triệt để. Mức độ đe dọa: bậc E.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm đánh bắt để mua bán trao đổi, cần tổ chức nuôi. (Nguồn : Sinh vật rừng Việt Nam).

 


 

NHÍM ĐUÔI NGẮN
Tên tiếng anh : East Asian Porcupine
Tên khoa học : Hystrix brachyura


Phân bố: Nêpan, ấn Độ, Bhutan, Trung Quốc, Bangladesh, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Malaixia, đảo Xumatơra, đảo Bocnêo.
Đặc điểm sinh thái: Nhím là động vật hoang dã, sống trong rừng, có khả năng thích nghi với nhiều môi trường khác nhau, từ rừng nguyên sinh đến rừng suy thoái. Ban ngày ngủ trong các hang hốc tự đào, miệng hang có cây cỏ mọc xum xuê. Kiếm ăn vào ban đêm. Khi gặp kẻ thù nhím thể hiện động tác đe dọa bằng cách dậm chân, xù lông và quay đuôi tạo ra tiếng động to. Nếu không kết quả chúng sẽ rút lui. Nếu kẻ thù tiếp tục truy đuổi, chúng sẽ bỏ chạy nhanh, sau đó đột ngột dừng lại, làm cho kẻ thù bị lông đâm. Nhím lắc đuôi liên tục làm cho lông va chạm nhau phát ra tiếng động. Qua nghiên cứu thấy rằng việc lắc đuôi như vậy để thể hiện khả năng uy lực của mình. Mỗi lần đẻ 2 - 3 con. Trong trại nuôi dưỡng chúng có tuổi thọ trên 27 năm.
Thức ăn : Gồm rễ cây, măng, vỏ cây, quả chín rụng xuống đất, xương động vật, sừng hươu, hoẵng bị lột bỏ. Chúng thường tha xương động vật hay sừng hươu hoẵng vào hang gặm nhấm để răng cửa không mọc quá dài.


HEO RỪNG
Tên tiếng anh : Eurasian Wild Pig
Tên khoa học : Sus scrofa


Heo rừng là giống heo hoang dã đang được thuần hóa ở Thái Lan, Việt Nam. Heo rừng, thường có hai nhóm giống: Nhóm giống mặt dài và nhóm giống mặt ngắn. Hiện nay đang được nuôi khá phổ biến trong cả nước.
Sinh sản: Heo rừng thường đẻ mỗi năm 2 lứa, mỗi lứa 5 -10 con, lứa đầu 3 - 5 con, lứa sau đẻ nhiều hơn 7-10 con.

 

CHỒN HƯƠNG
Tên tiếng anh : Small Indian Civet
Tên khoa học : Viverricula indica


Sinh thái và tập tính: Chồn hương không sống trong rừng. Sinh cảnh thích hợp là trên nương rẫy, ven khe suối, trên các đồi cây bụi. Sống đơn độc, kiếm ăn đêm (thường từ chập tối đến nửa đêm).
Thức ăn ưa thích của chồn hương là côn trùng và chuột. Ngoài ra chúng còn ăn chim và một số loài bò sát (rắn, kỳ nhông), một số loại quả và rễ cây. Chồn hương sinh sản tập trung vào tháng 4, 5, 6. Mỗi lứa 2 - 3 con. Tuổi thọ khoảng 8 - 9 năm.
Phân bố: Trên toàn vùng Nam châu Á. Ở nước ta, chồn hương phân bố khắp các tỉnh miền núi và trung du.
Giá trị sử dụng: Chồn hương cho xạ hương là một loại dược liệu quí.
Tình trạng: Số lượng không còn phổ biến, cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển vững bền loài chồn hương.


SÓC ĐUÔI PHÙNG
Tên tiếng anh : Squirrel
Tên khoa học :


Sóc là loài thú gặm nhấm có thân dài mỏng, đuôi dài xù giúp cho chúng định hướng khi di chuyển trên cành.
Thức ăn của sóc là các loại quả, hạt, búp cây …Khi ăn, sóc dùng hai chân trước đưa thức ăn lên miệng, dùng răng cửa hàm trên cắn vỡ hạt còn răng cửa hàm dưới khớp với nhau bằng bắp thịt riêng có tác dụng như một cái kẹp để lôi nhân ra. Sóc là loài thú có ích và có vai trò trồng cây vì chúng có thói quen là vùi hạt cây xuống dưới đất.

MÈO CÁ


 

 CON VÍCH
Tên khoa học : Caretta olivacea

Sinh học: Thức ăn chủ yếu là thực vật biển (rong tảo), có khi ăn cả cá, tôm cua. Mùa đẻ trứng từ tháng 2 - 5, mỗi lần đẻ khoảng 170 - 200 trứng, khi đẻ con mẹ bỏ lên bãi cát dùng chân sau đào lỗ sâu khoảng 30 - 50cm, đẻ trứng xuống đó. Trứng nhờ bức xạ mặt trời sưởi ấm và phát triển. Con non mới nở bới cát chui lên, lập tức bò ngay xuống biển, tìm nơi trú ẩn trong các hang, vách đá chỉ khi đói mới bò ra kiếm mồi.
Nơi sống và sinh thái: Sống ở biển nơi có nhiều rong biển. Có thể nuôi trong các ao đầm nước mặn, có khả năng nhịn đói nhiều ngày nhưng phải thấm ướt da bằng nước mặn.
Phân bố: Có ở khắp các vùng biển thuộc lãnh thổ VN.
Tình trạng: Còn khá phổ biến ở nước ta.
Mức độ đe dọa: bậc V.

Các dịch vụ khác :
Tát mương bắt cá
Câu cá sấu
Cưỡi đà điểu Châu Phi
Tắm sông - Trượt nước
Đi xe đạp trên đường làng
Chèo xuồng ba lá
Trò chơi dân gian
Nhà hàng Đà Điểu
Khách sạn
Đặc sản Vinh Sang
Shop mỹ nghệ
Các loài CHIM quý được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam
Cây trái của miền tây Nam Bộ
Cắm trại dã ngoại
Tàu khách sạn nổi 3 sao trên sông Sài Gòn
Trượt cỏ - DV giải trí lần đầu tiên có tại ĐBSCL
TOUR đón tại nhà dành cho khách VIP
Cao Tùng

Như Phương

Thu Hằng
 
Lượt truy cập : 424448